Thứ Năm, 22 tháng 12, 2005

1st snow covering in 4 years in Osaka!

I've stayed here in Osaka for 4 years, but today(Dec 22th) is the first time I see snow covering all the ground throughout the day!

In Osaka, it usually snows in the winter, but not that much like today. Today, snow's made the ground all-white (真っ白い)!! It's thick enough for ones to "skate" on... their shoes :)

click to see full size
Here is a snapshot of that scene taken from Osaka university.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2005

Thương sao đất nước non nhà!




Thứ Hai, 21 tháng 11, 2005

A Lovely Blue Poem...

There's one that has composed a poem after a flu... a poem that makes me feel... feel..., what can I say... yeah "nostalgia"! and reminds me of many of my forgoten dreams!


Life

[...]
sweet smells waft by
smells of nostalgia
and yearnings
all that was mine.

fog like mist
is all that can be seen
the way before misted
just like in dreams of mine.
[...]

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2005

The Tower of Babel

The Tower of Babel - a great man-made structure disrupted by God According to Genesis, we should have known about the story of the Tower of Babel. How proud were human beings when they got together and built that tower! I can call it the Tower of Pride or the Tower of Glory, since it was a great structure that we, the human beings, have had built up by ourselves, by our force, and by our mind.

However, what a pity that God, the creator of Universe, does hate pride and calls such a great man-made structure the sin of human! He claims that "Pride is the root of all sin"!? God hates any thing human does by himself without the idea of God!? Is that only God has the right to "create" things, and no one else can have that right? Is that any thing done without God's idea is from Satan's idea? Is that there are only 2 poles, one of God, and one of Satan? And is that our whole world with all of the human beings is currently under the rule of Satan?!

How can God be "the clement Father" when he stoped such a creative work, the building of the Tower of Babel. As you see, "the bricks were to them for stones, and the clay was to them for mortar", they have invented and used brick; It's creative, isn't it? The Vietnameses have a proverb saying "Con hơn cha là nhà có phúc"("That's happinese for sons to be better than father"). So, I would be very happy if my son can create new things, can do more things than me! But that cannot be the case of God! To me, God is no more than a LORD, just as lord in landlord, a lord that has others do nothing else but to obey him (like to obey his command "to go out and fill the earth").

If only dead could be alive,
If only stone could cry,
If only tears could be laughters,
Then we would hear God answer!

The 'Little' Tower of Babel

Genesis 11:1-9(or Vietnamese version): 1 Now the entire earth was of one language and uniform words. 2 And it came to pass when they traveled from the east, that they found a valley in the land of Shinar and settled there. 3 And they said to one another, "Come, let us make bricks and fire them thoroughly"; so the bricks were to them for stones, and the clay was to them for mortar. 4 And they said, "Come, let us build ourselves a city and a tower with its top in the heavens, and let us make ourselves a name, lest we be scattered upon the face of the entire earth". 5 And the Lord descended to see the city and the tower that the sons of man had built. 6 And The LORD said, "Lo! [they are] one people, and they all have one language, and this is what they have commenced to do. Now, will it not be withheld from them, all that they have planned to do? 7 Come, let us descend and confuse their language, so that one will not understand the language of his companion". 8 And the Lord scattered them from there upon the face of the entire earth, and they ceased building the city. 9 Therefore, He named it Babel, for there the Lord confused the language of the entire earth, and from there the Lord scattered them upon the face of the entire earth.

Sáng Thế Ký 11:1-9: 1 Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. 2 Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê -a, rồi ở tại đó. 3 Người nầy nói với người kia rằng: "Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa". Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ. 4 Lại nói rằng: "Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất". 5 Đức Chúa Trời bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên. 6 Đức Chúa trời phán rằng: "Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đương khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được. 7 Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia". 8 Rồi, từ đó Đức Chúa Trời làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. 9 Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Chúa Trời làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2005

What is the Truth beneath the September 11th attack

Wishes Disregarded:
The friends and families of the victims have had to endure one insult after another on top of the murders of September 11th, in the official response to the attack. Officials blocked any real investigation, and destroyed the evidence of the mass murder at Ground Zero over the concerted objections from families, respected figures in the New York City Fire Department, and a variety of other citizens wishing to see the laws against destroying evidence respected.

Administration officials ignored pleas from the victims' survivors not to go to war against Afghanistan in their name. The official FEMA report is an insult to intelligent readers, asking them to accept wildly improbable scenarios, and failing to even claim to explain the collapses of either WTC 2 or WTC 7. The failure of officials from the New York City and federal governments to address these failures is disgraceful.

the North Tower's collapse
Unthinkable Collapses:
A rational look at the Twin Tower collapses reveals that the official story contradicts the laws of physics and the most basic knowledge of the behavior of steel structures, and matter itself.



from 9-11 Research: An Attempt to Uncover the Truth About September 11th, 2001

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2005

Adult content ONLY!

SEXUPLOADER.com: "Sexuploader has the purpose to host adult content only. All non adult files will be removed from our system."



Hehe, while other "normal sites" ban the adult content, this X site does ban the non-adult content! :D

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2005

Nushu (女書)

Omniglot: "Nushu is a script created and used exclusively by women in Jiang Yong Prefecture, Hunan Province, China. The women were forbidden formal education for many centuries and developed the Nushu script in order to communicate with one another. They embroidered the script into cloth and wrote it in books and on paper fans."

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2005

VNmese, the most annoying people in the region !?

We never understand why but Vietnamese are the only people in the region who really love touching other's stuff, your book, your PDA, your watch, and of course our bicycle, they touched it while we were riding the bike! To be frankly, we found some people in Vietnam really determined to get some pleasure by giving you annoyance, definitely we're not saying all so don't accuse us of being racist, but we haven't met any other similarly annoying people in the region, ever! So welcome to this very different world.
[...]
from Kong Junior's World

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2005

chuyện Hằng 'hủi' - Cổ tích giữa đời thường...

[2005-06-30] Gánh con ra chợ cầm nợ, nung đỏ dao tự chặt cả bàn tay... Vượt lên những đau khổ ghê gớm của cuộc đời, giờ Hằng "hủi" sống hạnh phúc bên... bờ ao nhà mình.

Chị đưa tay rót nước. Tôi bỗng giật mình khi nhìn thấy đôi bàn tay cụt hết ngón, sần sùi, sứt sẹo, đôi chỗ vẫn còn rớm máu... Gần cả một đời, người đàn bà “khó đôi bàn tay” này đã nếm trải trăm đắng, ngàn cay mà có lẽ các nhà tiểu thuyết cũng không tưởng tượng ra nổi một số phận kỳ lạ như vậy. Nghe chị kể mà tôi gai người, để rồi tin rằng ở đời vẫn còn chuyện cổ tích...

“Khúc dạo đầu” của số phận

Năm 1967, thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cực kỳ ác liệt, sau khi tốt nghiệp Đại học Tài chính Kế toán, cô gái trẻ Trần Thị Hằng được cử vào miền Nam công tác. Trên đường đi, vướng phải mìn chị suýt chết trong gang tấc. Nhưng chiến tranh thực sự in dấu ấn khủng khiếp vào đời chị khi nó cướp mất đứa con trai đầu lòng mới tròn 2 tuổi.

Năm 1970, sau cơn sốt rét thập tử nhất sinh, chị được điều ra Bắc làm ở Cục Thu bội chính (Bộ Tài chính). Năm 1972, đang ở Hoài Đức (Hà Tây), chị bị trúng bom Mỹ. Tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng sức khoẻ suy giảm nghiêm trọng, buộc phải nghỉ việc về quê chồng. Từng ấy biến cố đối với người đời có thể xem là bất hạnh rồi, nhưng với chị đó mới chỉ là “khúc dạo đầu” của số phận...

Cuộc sống ở Bắc Ninh quê chồng khốn khó đến nỗi chị phải gửi Tú Anh - Đứa con trai còn đi chưa vững - về quê Thái Bình cho bà ngoại nuôi. Những tưởng, nghèo khổ sẽ khiến vợ chồng thương nhau hơn, nhưng người chồng không chấp nhận cảnh “râu tôm nấu với ruột bầu”, đã bỏ chị đi theo một người đàn bà khác.

Mang thai đứa con thứ ba được 8 tháng, ngày nọ chị bỗng thấy lên cơn sản giật đau quằn quại. Một người phụ nữ thương tình đã đưa chị đi bệnh viện cấp cứu. Bệnh viện chỉ cứu được mẹ, còn đứa con hơn 8 tháng tuổi đã chết khi chưa kịp nhìn thấy ánh sáng mặt trời...

Từ bệnh viện trở về, đập vào mắt người mẹ vừa mất con là một sự thật phũ phàng khác: Quần áo chị đã bị người nhà chồng đốt sạch. Đến nước ấy, chị chỉ còn mỗi con đường về quê với mẹ.

Nhưng về quê, chính quyền địa phương lại nghi ngờ chị “trốn chúa lộn chồng” nên bắt trở lại Bắc Ninh. Chị cứ sống cảnh chơi vơi, không hộ khẩu, bị đưa đi đẩy lại như thế trong một thời gian dài.

Người mẹ già đang ở với chị gái. Không chốn nương thân, chị lấy 5 cây chuối kết thành bè, dựng lên đó túp lều lợp bằng cỏ môi, lênh đênh trên mặt ao hoang vắng.

Mùa đông rét căm căm. Ban đêm chị để đứa con trai bé bỏng nằm trên người, ôm chặt lấy nó, tự biến mình thành chiếc lò sưởi mặc cho gió lạnh lùa tứ bề. Trời mưa to, nước tuôn xuống túp lều rách nát, chị lấy chiếc nón mê đội lên đầu con, còn mình đành chịu ướt.

Nước quyện với bồ hóng trên mái nhà rơi xuống, nhuộm đen cả mặt chị. Có lúc, nước mắt hoà với nước mưa lẫn bồ hóng, chảy thành dòng trên đôi gò má gầy guộc. Nằm mà nơm nớp lo chiếc bè chuối có thể bị chìm bất cứ lúc nào.

Chẳng biết chia sẻ cùng ai, trong nỗi cô đơn cùng cực, người đàn bà ấy đã làm những câu thơ như thế này: “Túp lều nát rùng mình trong giá rét; Chiếc nôi nghèo run rẩy giữa đêm giông; Ai sẽ về chăm lo? Chẳng còn ai nữa hết; Tội nghiệp nỗi cô đơn trong đêm tối khóc thầm”.

Gánh con ra chợ cầm nợ

Chị đọc cho tôi nghe bằng một chất giọng tưởng như có thể gọi cả đêm đông ấy về đây. Rồi chị nói: “Hồi đó, chị Dậu còn sướng hơn tôi vì có đàn chó để bán. Ở đã thế, kiếm miếng ăn còn cơ cực gấp mấy lần...”.

Hàng ngày, từ túp lều, chị đặt Tú Anh vào một đầu quang gánh, đầu còn lại bỏ vào hòn đá cho cân, rồi quảy ra chợ. Đến chợ chị đưa thằng con trai đi cầm nợ để lấy chịu của người ta mớ rau, ít cà chua đem bán, với lý lẽ như thế này: “Cháu không có vốn, nên đặt đứa con ở đây cho bà tin, bà cho lấy ít hàng đi bán kiếm chút tiền đong gạo. Bán xong sẽ về trả tiền và xin lại con. Cháu chẳng phải chửa hoang đâu, chẳng qua bị chồng ruồng bỏ”.

Cứ thế, Tú Anh trở thành một thứ “vốn lưu động” giúp hai mẹ con sống qua ngày. Đi bán hàng ở chợ Rồng (Nam Định), xa quá không về nhà được, đêm chị bỏ con vào bao tải, còn mình ngồi canh cho con ngủ, muỗi đốt đỏ chi chít cả mặt. Những nốt muỗi đốt trông như một trời sao.

Thời ấy, nước máy khan hiếm, chị có thêm nghề đi xếp nước thuê. Đứng xếp hàng mấy tiếng đồng hồ, người ướt nhoẹt, chỉ được trả có vài xu. Đứng xếp hàng từng đêm như thế, chị mơ mình sẽ có một ngôi nhà nho nhỏ cho hai mẹ con trú nắng trú mưa. Ước mơ đó có vẻ như quá xa vời khi mà để mua một chiếc bếp thổi giá có 8 đồng mà 2 năm rưỡi chị mới trả xong nợ.

Nhưng rồi, sau bao đêm ngồi bên bao tải canh cho con ngủ, sau bao đêm ướt sũng xếp hàng thuê, cuối cùng chị cũng dành dụm được một khoản tiền mua cái ao hoang hoá, nơi bao năm nay “chứa chấp” chiếc bè chuối của hai mẹ con. Cái ao giá 2 triệu đồng, chị phải vay nặng lãi 1 triệu đồng, 10 năm sau mới trả xong, lúc đó số nợ đã lên tới 10 triệu đồng.

Ngày đi làm, đêm chị lặng lẽ gánh đất về lấp ao. Chiếc ao rộng, nước sâu, từng gánh đất nhỏ nhoi đổ xuống tan biến đi, giống như “dã tràng xe cát biển Đông”. Nhưng rốt cục thì đó cũng chẳng phải “công dã tràng”, một góc ao đã biến thành đất bằng, đủ để dựng nhà.

“Dựng nhà”, hai từ đó nghe mỉa mai làm sao khi mà trong tay chị không có lấy một đồng. Nhưng người đàn bà ấy biết mình phải làm gì. Cả ngày buôn thúng bán mẹt ngoài chợ, trời chập choạng tối, chị lại gánh đá đổ ở điếm đầu làng, rồi từ đó “tha” về chiếc bè chuối.

Âm thầm gánh đá trong đêm như vậy, có những lúc buồn ngủ, đòn gánh bật ra đập vào mặt chị thâm tím. Nghĩ đến đứa con trai đói ăn, chị còn “đa mang” đi gánh thuê cát vàng, gánh cả một thuyền cát chỉ được cho vay 13 bơ tấm, nhưng sau đó phải trả bằng gạo.

Nung đỏ dao, tự mình chặt cả bàn tay

Gánh đủ đá, chị đào đất đóng gạch. Đôi tay đàn bà mềm yếu ấy đập đá, nhồi đất dẻo dai như tay lực điền. Nhưng một ngày nọ, chị bỗng thấy những ngón tay của mình ngắn lại, mòn đi, nhiễm trùng đang hoại tử. Những ngón tay phải đập đá, đào đất quá nhiều, đã lâm "trọng bệnh”.

Lúc đó, vì chưa có hộ khẩu nên không được vào bệnh viện, chẳng còn cách nào khác, chị bỗng nghĩ ra một kiểu “điều trị” khủng khiếp: nung đỏ con dao sắt, kê ngón tay lên viên gạch và nghiến răng chặt!

Khi ngón tay đã đứt lìa, nhọ nồi hoà với vôi đã được chuẩn bị sẵn, chị run rẩy bôi vào vết chặt. Choáng váng, chị ngất đi vì đau. 1 ngón tay, 2 ngón tay, 4, 5 ngón tay... lần lượt lìa khỏi bàn tay chị theo cách “trung cổ” đó. Bàn tay trái chặt ngón tay phải, bàn tay phải chặt ngón tay trái. Cho đến khi không còn ngón tay để cầm dao nữa! Mỗi ngón tay bị chặt lìa là một lần chị ngất lịm.

Tôi rùng mình khi hình dung ngón tay đứt lìa, vôi trộn bồ hóng bôi vào vết chặt còn đầy máu ấy. Bất giác tôi nhìn sang đôi bàn tay cụt ngón của chị, nó đã liền sẹo nhưng vẫn toát lên cái gì đó nhẫn nhịn mà kiên gan.

Họa vô đơn chí, sau khi đôi bàn tay cụt hết ngón, dân làng bắt đầu xì xào đồn thổi chị mắc bệnh phong. Rồi cũng chẳng dừng lại ở đồn thổi nữa, một ngày nọ, dân quân đến trói nghiến chị lại, bồng súng giải chị đi bệnh viện như giải một kẻ tội đồ.

Tại bệnh viện, vị bác sỹ già sau khi khám, đã khẳng định chị không mắc bệnh phong. Dẫu có mắc bệnh, chị cũng không nhập viện được vì chưa có hộ khẩu. Người đàn bà đó bị trả về với 10 viên thuốc Tetaxilin giá trị tương đương 10 buổi đi chợ. Nhưng trong mắt của nhiều người, chị vẫn là hủi, và cả hai mẹ con đã “lãnh đủ” sự kỳ thị, xa lánh.

Tú Anh đang học lớp 3 đã bị chúng bạn réo tên gọi: “Đồ con hủi”, thậm chí có kẻ còn dọa giết chết đứa bé ngây thơ này. Điều đó làm chị đau đớn hơn cả lúc cầm dao chặt vào ngón tay mình.

Vẫn túp lều cỏ trên bè chuối, nhưng đôi tay đã cụt ngón, lại phải “gánh” thêm cái tiếng hủi, trong một phút tuyệt vọng chị viết một bức thư tuyệt mệnh gửi mẹ dặn: “Con chết rồi, mẹ gửi Tú Anh vào trại mồ côi, đừng đưa nó về với bố nó”.

Chị đi ra bãi sông Thái Hạc tự tử. Lúc đang chấp chới trong dòng nước thì ông lão thuyền chài đã nhanh tay kéo chị lên. Sau khi nghe rõ sự tình, ông lão bảo: “Ta sẽ cho con 1000 đồng để con có chút vốn làm ăn. (1000 đồng lúc đó tương đương 1 tạ gạo). Đừng bao giờ nghĩ đến tìm đến cái chết nữa. Sống khó, chết dễ lắm, vô nghĩa lắm”.

Từ bến sông về nhà, chị phải nghỉ 8 lần, niềm tin vào cuộc đời, tình người tưởng như đã tắt ngấm trong chị, nay được ông lão thuyền chài thắp lên, bừng sáng.

Về nhà, chị đưa Tú Anh lên Nam Định học để tránh đi sự xa lánh của bạn bè. Chiều chiều cậu bé học xong lại đứng ở góc chợ đợi mẹ, đêm thật khuya hai mẹ con mới dám về túp lều, rón rén như người mang tội. Thế rồi, trong đêm khuya khoắt, đôi bàn tay cụt ngón của chị lại tiếp tục đập đá, nhồi đất đóng gạch. Như có phép lạ, trong vòng mấy năm với đôi tay tật nguyền ấy, chị đã đóng được 16 vạn gạch mộc!

Không đủ tiến mua than, chị bán gạch mộc cho người ta, chỉ để lại 4 vạn viên, thuê người nung, xây móng, xây tường nhà, còn mái nhà thì phải chờ đến lúc có tiền mới đổ. Ngôi nhà đang dang dở thì chị ốm một trận “thập tử nhất sinh”.

Những năm tháng dằng dặc bị đọa đày, ăn đói, mặc rét, làm việc quá sức khiến chị bị liệt nửa người. Chỉ duy nhất đàn gà đáng giá, Tú Anh cắp hai con to nhất, năn nỉ người xích lô chở mẹ vào bệnh viện cấp cứu. Người ta nghĩ rằng chị sẽ chết, bàn cách khi chôn phải rắc thật nhiều vôi bột để trừ tận gốc bệnh phong.

Vùng vẫy trong vô thức, người đàn bà đó muốn thét thật to: Tôi còn sống, tôi muốn sống! Chẳng biết ông trời có thấu tỏ hay không mà sau 4 tháng vật vã với bệnh tật, chị đã dần khoẻ lại.

Đục một cái lỗ dưới nền nhà, chị rang lạc, rang ngô cho Tú Anh đi bán ở các rạp hát, bến thuyền. Hôm nào hàng ế, hai mẹ con ăn ngô, lạc trừ bữa. Tú Anh chỉ có duy nhất một bộ quần áo, ban đêm về túp lều phải ở truồng cho mẹ giặt, phơi khô để ngày mai mặc tiếp.

Chị cũng chẳng hơn gì, đêm cũng đành “vận” một bộ đồ rách như tổ đỉa. May thay, trong lúc bi đát đó, chị mua chịu được một đôi lợn. Đôi lợn được coi như “vật cứu tinh” của 2 mẹ con, nhưng đến lúc xuất chuồng, rao bán lại không ai thèm mua “lợn của hủi”.

Chị phải gọi người ở xa đến bắt vào ban đêm, chịu thiệt với giá bán rẻ bằng một nửa giá bình thường. Có tiền, lại mua đôi lợn khác, vừa vỗ thịt vừa chăm lợn nái đẻ. Cứ thế, đàn lợn ngày một sinh sôi.

Chị tát ao, lội xuống bùn ngang ngực, cấy lúa, còn trên bờ trồng rau muống. Lúa tốt bời bời, một số người trước đây coi khinh chị là “hủi” giờ lại đến vay thóc về ăn.

Nhưng niềm vui không gì so sánh được của người đàn bà ấy là đứa con trai duy nhất học rất giỏi và thi đậu vào trường ĐH Kinh tế Quốc dân. Sóng gió tưởng như đã qua bỗng dưng lại ập tới: Năm thứ 2 đại học, Tú Anh bị thiếu ôxy não, sinh độc tố trong máu. Chị lại đưa con trai đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác để chạy chữa.

Ròng rã 9 tháng trời, bao nhiêu tài sản vừa được gây dựng đã tan theo bước chân của 2 mẹ con từ Bắc vào Nam. Ngày Tú Anh khỏi bệnh, số nợ của chị lên tới 73 triệu đồng.

Nhưng kể từ khi được ông lái đò cứu mạng, chưa một lần người đàn bà ấy tuyệt vọng, trở về với “máng lợn”, chị lại nuôi lợn thả cá, làm vườn, một mình con tiếp tục ăn học và chăm sóc mẹ già.

Vào những năm 1992 - 1993, trong chuồng nhà chị có tới 75 con lợn, một ao cá và 4 sào ruộng. Vẫn đôi bàn tay cụt ngón ấy làm tất cả mọi việc: băm bèo, nấu cám, cuốc đất...

Có vốn, chị đi buôn vàng, bất động sản, kiến thức của một người từng tốt nghiệp ĐH Tài chính Kế toán khoá đầu giúp chị thành công trong nhiều thương vụ. Ông trời có vẻ như đã mủi lòng trước người đàn bà có sức sống kỳ lạ này, Tú Anh ra trường, đi làm, lấy vợ sinh con.

Hạnh phúc bên bờ ao nhà mình

Xã Hoàng Diệu thuần nông của thành phố Thái Bình bỗng mọc lên một ngôi biệt thự hiếm hoi. Tuy biệt thự đang xây nhưng người ta đã đặt câu hỏi: Của ai? Của một Việt kiều, một giám đốc, một đại gia nào chăng? Rồi người ta ngớ ra: biệt thự của Hằng “hủi”, người đàn bà từng gánh con ra chợ cầm nợ để đổi lấy ít rau dưa bán kiếm ít tiền sống qua ngày.

Biệt thự nằm bên bờ ao, gần túp lều rách nát dựng trên bè chuối ngày xưa. Chị cười rạng rỡ, nói với tôi: “Tôi định không làm ngôi nhà này đâu, nhưng cuối đời mình cũng có một nơi ở rộng rãi để đón bạn bè tới thăm. Ngôi nhà này có một ít tiền của tỉnh Thái Bình góp vào để xây nhà tình nghĩa cho mẹ tôi. Mẹ tôi năm nay tròn 100 tuổi. Tôi là con liệt sỹ, nhưng bao năm bị đọa đày, có ai nhớ đến đâu”.

Chị Diễm, vợ của Tú Anh đang chơi với hai đứa trẻ đẹp như thiên thần ở ngoài sân. Một thời, hai vợ chồng làm ăn khó khăn, chính chị Hằng đã động viên con dâu đi học ĐH Sư phạm Thái Nguyên, để giờ đây Diễm đã là cô giáo. Còn Tú Anh trở thành Giám đốc một Cty TNHH làm ăn phát đạt.

Dù đã khá giả, nhưng chị vẫn tự tay băm bèo chăn lợn, không thuê người làm, khu ao rộng 1000 m2 được kè bờ xi măng, thả cá trê, baba. Rau trái đầy vườn, mùa nào thức ấy, không tấc đất nào bị bỏ hoang.

Chị nói với tôi rằng sau khi ngôi biệt thự hoàn thành chị sẽ đi làm từ thiện, sẽ cưu mang những đứa trẻ thơ mồ côi, lang thang cơ nhỡ, phải bán lạc rang, nằm bao tải như Tú Anh ngày xưa. Chị sáng tác nhiều thơ, những bài thơ thấm đẫm tình người, tình đời và luôn kết thúc có hậu.

Ra về tôi nắm chặt bàn tay của người đàn bà ấy. Đôi tay cụt ngón đã tự mình viết nên một câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp.

Tác giả: Phùng Nguyên
Nguồn: Tiền Phong Online
Người gửi: Ginko

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2005

Câu cá sấu và tắm 'Biển Chết' tại Vàm Sát

Vàm Sát
Vàm sát vốn đã xanh như những giấc mơ đẹp, nay lại càng hấp dẫn hơn với hai hoạt động đầy hứng thú này. Đến với Vàm Sát là về với thiên nhiên, về với sự tinh khiết được tạo dựng bởi những con người yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống.
[...]

VnExpress

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2005

Tết tuyết ở Nhật Bản

Hokkaido vốn được gọi là "đất tuyết", thường xuyên bị băng tuyết bao phủ trong khoảng thời gian gần nửa năm. Vì vậy từ năm 1950, chính quyền thành phố Sappro quyết định tổ chức Tết tuyết trong 5 ngày đầu tháng 2, đúng dịp tuyết rơi nhiều nhất, khí trời lạnh nhất.

Tết tuyết là một cuộc triển lãm nghệ thuật. Các phù điêu, tượng bằng tuyết trong ngày tết đều do các nhà điêu khắc nổi tiếng trong nước tạc đắp. Chúng mang nội dung, kiểu dáng, màu sắc đa dạng, nghệ thuật tạo hình khéo léo. Ở công viên Odori - trung tâm của lễ hội, vô số pho tượng tuyết hợp thành một thế giới nghệ thuật lộng lẫy.

Trong dịp này còn diễn ra các hội diễn văn nghệ lớn. Các danh ca, diễn viên, nhạc sĩ nổi tiếng từ khắp nơi tụ hội về, trổ tài trên sân khấu lớn bằng tuyết trắng và được đài truyền hình truyền trực tiếp đi toàn quốc. Từ năm 1973 trở đi, Tết tuyết được bổ sung phần "thi tượng tuyết quốc tế". Một bãi rộng được thiết kế cho khách nước ngoài đến dự thi. Các nước đắp tượng tuyết mang đặc điểm riêng của nước mình. Trong thời gian đắp tượng, đại diện các nước dự thi mời nhau ăn các món đặc sản của dân tộc mình, tạo ra một bầu không khí đại gia đình thân thiết.

Tết tuyết không chỉ làm cho dân trong vùng thoải mái, vui sướng, mà còn thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Mỗi năm có khoảng hơn 2 triệu khách nước ngoài đến tham quan. Tết tuyết còn đưa trẻ em vào một khung cảnh thiên đường. Hằng năm, trên quảng trường Siagunai người ta đều làm một cầu trượt lớn bằng tuyết, nặn tượng các nhân vật trong truyện thần thoại, các loại cầm thú quý lạ, đầu máy hơi nước, bàn trượt tuyết và xe ngựa... cho trẻ em.

(Theo sách Phong tục tập quán các nước)

'Tháng Giêng ăn chơi' của người Nhật Bản

Thời cổ xưa, Nhật Bản cũng như Trung Quốc coi trọng năm âm lịch, về sau mới đổi sang dùng dương lịch. Tết nguyên đán đã trở thành ngày lễ long trọng nhất ở Nhật Bản, với kỳ nghỉ dài mang tên "Tháng Giêng ăn chơi".

Trước khi Tết đến, mọi nhà đều dựng cây Tùng trước cửa. Tập tục này xuất hiện ở Nhật Bản vào thời đại Heian. Cây Tùng vốn được người Trung Quốc tôn vinh là công tước, là biểu tượng của sự tốt lành. Ở Nhật Bản, cây Tùng còn mang ý nghĩa đón thần linh. Trên mi cửa của không ít gia đình Nhật vẫn dùng các vật phẩm như đồ đan bằng lá màu trắng, quả quýt, thừng bện bằng cỏ, dải giấy trắng… Tùng tượng trưng cho trẻ mãi không già; quả quýt màu da cam, có âm đọc giống như "đời đời" trong tiếng Nhật, tượng trưng cho muôn đời thịnh vượng; thừng bện bằng cỏ được treo ở điện thờ hoặc nơi thờ cúng, kính dâng lên thần linh cầu tài lộc; lá cây màu trắng nói lên sự trinh bạch không tì vết; còn dải giấy trắng mang ý nghĩa tẩy sạch vết nhơ và xua đuổi tà ma. Ngoài ra, người Nhật thường lấy tôm hùm làm đồ trang sức vì nó có hình dạng giống như cụ già khom lưng, ví với cảnh giàu sang phú quý, cả nhà trường thọ.

Làm bánh Tết và nấu món ăn tổng hợp cũng là một việc lớn trong dịp Tết. Bánh Tết tượng trưng cho sự may mắn, được làm vào ngày 28 hoặc 30 Tết. Người Nhật kiêng làm bánh vào ngày 29 vì số 9 có âm đọc giống chữ “khổ”, làm bánh trong ngày này ắt phải ăn bánh khổ, nghĩa là quanh năm phải nếm trải khổ đau. Món ăn quan trọng nhất của năm mới là “món Tết” và “đồ nấu tổng hợp”. Món Tết thực chất là món ăn ngọt, làm bằng các nguyên liệu thông thường như rễ cây ngưu bàng, trứng cá, cá sardin khô, tảo ăn, khoai lang, hạt dẻ… Người Nhật dùng những món ăn đơn giản nhưng giàu ý nghĩa tượng trưng này để ăn tết là xuất phát từ tâm lý cầu ước vạn sự tốt lành.

Bánh tết thập cẩm và món ragu khoai sọ, cà rốt, rau xanh nấu lẫn trong một nồi càng giàu ý nghĩa tượng trưng hơn. Đây là những đồ cúng, đồng thời cũng là món ăn dành cho nhiều người, để nhiều người được hưởng lộc thần linh và niềm sung sướng. Những lát cà rốt tượng trưng cho mối quan hệ gắn bó hòa thuận của mọi thành viên trong gia đình. Còn những của khoai sọ tượng trưng cho sức mạnh tẩy trừ tà khí.

Đêm 30 Tết, cả nhà quây quần ăn bữa tất niên, rồi cùng ngồi đón giao thừa. Đúng 12 giờ đêm, tiếng chuông nhà chùa thông qua kênh truyền hình truyền đi khắp cả nước. Người Nhật tin rằng 108 tiếng chuông chùa sẽ xua đuổi 108 con quỷ sứ. Trong tiếng chuông ngân nga, mọi người chúc tụng nhau và cùng ngồi vào chỗ của mình. Chủ nhà ngồi trên cùng, rút quạt ra tuyên đọc lời chúc mừng năm mới, cả nhà đồng thanh chúc tụng, sau đó cùng ăn bánh tết, uống rượu thần Tút-sô.

Xuất hành đầu năm, đi lễ chùa, cầu may cho cả năm cũng là một công việc trọng đại của người Nhật Bản. Họ bỏ vào hòm công đức trước điện thờ mấy đồng tiền, gọi là tiền hương hoa dâng lên thần phật. Hành lễ xong, mọi người nộp tiền rút thẻ hoặc mua một mũi tên thần, cầu mong thần linh che chở cho mình được sống một năm yên ổn.


Kể từ mồng 1 trở đi, cấp dưới đi chúc Tết cấp trên, bạn bè thân thích và bà con phường xóm cùng chúc tết lẫn nhau, người đi kẻ lại vô cùng tấp nập. Người Nhật coi đây là cuộc thăm viếng đầu Xuân, và gọi 3 ngày đầu tháng giêng là “ba ngày chúc tụng”. Tháng giêng trở thành tháng hòa thuận. Nhà nhà đều để sổ ký tên và bút chì trước cổng, khách đi chúc Tết sẽ để lại địa chỉ hoặc gài danh thiếp vào trong cuốn sổ, ý nói đã đến nhà. Cũng có người khi đi chúc Tết mang theo nhiều chiếc khăn tay nhỏ có đề tên mình, tặng cho mỗi nhà một chiếc.

Tặng nhau thiếp mừng năm mới cũng là nét đặc sắc trong phong tục đón mừng năm mới của người Nhật. Nhật Bản là nước phát hành thiếp chúc mừng năm mới nhiều nhất trên thế giới. Phương pháp đưa thiếp mừng của bưu điện Nhật rất đặc biệt. Trước hết tập trung toàn bộ các thiếp chúc mừng năm mới rồi đem gửi đến nhà người nhận vào đúng ngày mồng 1 Tết. Ngày này, mọi người ngồi ngắm những tấm thiếp chúc tết muôn hình muôn vẻ từ mọi nơi gửi đến, ôn lại quá khứ, chờ đón tương lai. Đây quả thực là sự hưởng thụ đặc biệt. Thiếp chúc mừng năm mới khởi nguồn từ Trung Quốc, nhưng người Nhật Bản đã sáng tạo thêm tục lệ mà Trung Quốc không có, đó là nếu năm ấy trong nhà có người qua đời, họ sẽ không được nhận hay gửi thiệp năm mới cho bất kỳ ai. Tập tục này ra đời từ Phật giáo. Phật giáo chủ trương, trong thời kỳ để tang không đến những nơi vui chơi giải trí, không ồn ào ầm ĩ hoặc chè chén linh đình, mà cầu nguyện cho người chết vào chốn vĩnh hằng bằng sự tĩnh tâm và việc làm thầm lặng của mình.

Đến ngày mồng 4 tháng giêng, các cơ quan, xí nghiệp bắt đầu làm việc. Ngày này, các công sở, công ty đều chuẩn bị bữa tiệc giản tiện để các đồng sự nâng cốc chúc nhau. Tất cả chị em phụ nữ đều mặc quần áo sặc sỡ và trang điểm lộng lẫy. Cả ngày, mọi người cùng chìm đắm trong niềm vui bất tận.

(Theo Phong tục tập quán các nước trên thế giới)

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2005

3 chữ 'đơn giản' mà không đơn giản...

Đơn giản nói "Anh yêu em" !?

Thực tế, nói ra 3 từ này là một bước ngoặt lớn đối với một số anh chàng. Bởi nó có ý nghĩa hơn rất nhiều so với việc chỉ đơn thuần bộc lộ cảm xúc. Với một số người, nó như một bản án chung thân, với người khác, nó đồng hành với sự mạo hiểm.

"Khi nói 3 từ đó, tôi cảm thấy như đặt toàn bộ cuộc sống của mình vào tay cô ấy. Điều đó thật đáng sợ. Chỉ khi nào thực sự tin tưởng và biết rằng cô ấy sẽ không vứt bỏ tình yêu của mình, tôi mới dám thốt ra những lời đó". Trong trường hợp này, nỗi sợ bị khước từ đã lấn át tất cả.

Bị từ chối là nỗi đau khủng khiếp với hầu hết đàn ông, và chính câu nói "Anh yêu em" được coi là lời mời hứng chịu tổn thương. Hầu hết các anh chàng cần phải cảm thấy thật an toàn trong mối quan hệ và chắc chắn về cảm xúc của người phụ nữ dành cho mình, thì mới dám nói ra 3 từ đó.

Với người khác, nói rằng "Anh yêu em" có nghĩa là "Anh đã cam kết và anh sẽ ở đây để làm bất cứ thứ gì cho em". Với nhiều đàn ông, tình yêu được thể hiện qua hành động, vì vậy 3 từ này như một lời hứa về những gì sẽ được thực hiện. Nói ra 3 từ này sẽ khiến họ cảm thấy họ chấp thuận ở đó, cống hiến cho cô ấy, hỗ trợ cô ấy. Nếu không làm vậy họ sẽ chỉ thấy mình như một kẻ bám gót.

Còn khi một số anh chàng khác nói "Anh yêu em", thì nó có nghĩa là "Anh sẽ không rời bỏ" hoặc "Anh sẽ chung tình". Điều này thực đáng sợ với một số đàn ông. Họ coi những từ này như một lời hứa và nếu lời hứa bị phá vỡ thì họ cũng bị tổn thương. Đàn ông không muốn làm hỏng lời hứa với bạn. Hầu hết muốn thực hiện đến cùng và cho bạn những gì họ muốn. Xét cho cùng, họ muốn bạn hài lòng với họ và cũng để họ hài lòng về chính bản thân mình.

Thanh Niên Online

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2005

Những món quà vô giá

Món quà của sự lắng nghe. Nhưng chỉ khi bạn thật sự lắng nghe, không ngắt lời, không hay mơ mộng, cũng không suy nghĩ đến câu trả lời. Chỉ lắng nghe.

Món quà của sự yêu thích. Hãy rộng lòng với những cái ôm, những nụ hôn, những cái vỗ vai, những cái níu tay. Hãy để những hành động nhỏ bé ấy chứng minh tình cảm mà bạn dành cho gia đình và bè bạn của mình.

Món quà của tiếng cười. Hãy sẻ chia những đoạn phim hoạt hình, những mẩu chuyện vui. Món quà này sẽ thay bạn nói lên rằng “Tôi thích được cười đùa cùng bạn”.

Món quà của những mảnh giấy ghi chú. Đó có thể đơn giản chỉ là một dòng chữ “Cảm ơn vì đã giúp đỡ” hoặc cũng có thể là cả một bài thơ trữ tình. Một dòng chữ viết tay ngắn ngủi có thể sẽ được nhớ đến suốt đời hoặc thậm chí là làm thay đổi cuộc sống của một con người.

Món quà của lời khen tặng. Một lời nói ngắn gọn, giản đơn nhưng hết sức chân thành, đại loại như “Bạn trông thật tuyệt với bộ váy đỏ này”, “Bạn làm việc tốt lắm” hay “Thật là một bữa ăn ngon” có thể tạo nên niềm vui trong suốt một ngày đối với người khác.

Món quà của lòng nhân ái.
Mỗi ngày, hãy làm một điều gì đó không nằm trong kế hoạch định sẵn của bạn.

Món quà của sự tĩnh mịch. Đó là những khoảnh khắc mà ta chỉ muốn được ở một mình. Hãy hết sức nhạy cảm cùng những thời khắc này, và trao món quà của sự tĩnh lặng đến với những người khác đúng lúc.

Món quà của sự tri ân. Cách dễ dàng nhất để trao một lời nói chân thành đến ai đó, không quá khó như bạn vẫn nghĩ; chỉ cần đơn giản nói “Xin chào” hoặc “Cảm ơn!”.

QUỐC DŨNG (Theo Inspiretoday)

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2005

Chúng ta thật giàu có!

Chúng ta sinh ra có Hai Mắt đằng trước thì chúng ta không nên luôn nhìn lại phía sau mà là nhìn xem có gì đang đợi chúng ta ở phía trước

Chúng ta sinh ra có Hai Tai: một bên phải một bên trái, để chúng ta nghe được hai phía, nghe được cả lời khen va lời chê.

Chúng ta sinh ra có Bộ Não được giấu trong một hộp xương, dù chúng ta có nghèo về vật chất đến đâu, chúng ta vẫn giàu vì không ai lấy đi được những gì trong bộ não của chung ta - những thứ ấy quý hơn cả vàng bạc và trang sức mà bạn có.

Chúng ta sinh ra có hai mắt, hai tai , nhưng chỉ có một cái miệng. Hẳn bạn biết tại sao chứ ? Vì miệng lưỡi là một vũ khí sắc bén, có thể làm cho nguòi khác cảm thấy yêu thương hay thù ghét. Hãy nhớ: nói ít , nghe và quan sát nhiều hơn.

Chúng ta sinh ra chỉ có một Trái Tim , nằm sâu trong lồng ngực để nhắc chúng ta hãy biết trân trọng và luôn cho đi sự thương yêu từ sâu trong lòng mình.

Với tất cả những gì chúng ta có khi sinh ra, chúng ta thật giàu có biết bao! Hãy yêu quí và trân trọng cuộc sống giàu có này, bạn nhé!

-Chicken Soup for the Soul_

Sử dụng các từ ngữ văn hoá trong giao thiệp

Từ ngữ văn hóa có ý nghĩa văn hóa xã hội. Ý nghĩa văn hóa xã hội là chỉ nghĩa bóng, ẩn dụ, tượng trưng, biểu cảm.

l. Từ ngữ tượng trưng

Ðó là các từ ngữ có hàm nghĩa tựng trưng văn hóa, ngoài chức việc định danh ra, các từ ngữ gợi lên một sự liên tưởng nào đó. Ví dụ trong tiếng Việt, từ "con rồng" ngoài chức năng định danh là chỉ một con vật tưởng tượng ra, là biểu tượng của nhà vua thời xưa và tượng trưng của dân tộc Việt. Người Việt thường tự nhận là con rồng cháu tiên. Người Trung Hoa cũng thường nhận là con cháu của Rồng. Nhưng trong các tiếng Tây phương , Dragon (rồng) lại không có nghĩa đẹp như vậy. Ðó chỉ là con vật huyền thoại rất hung ác, luôn luôn làm hại con người. Bởi thế người Tây phương không hiểu tại sao tại sao người Việt, người Trung Hoa lại sùng bái một con ác thú như thế!

Trong Hán ngữ con bò vàng già (lão hoàng ngưu) là chỉ tượng trưng những người làm việc cần cù, có góp công sức lớn lao và không bao giờ khoe khoang, là một danh hiệu rất quý Nhưng trong tiếng Việt, con bò là một biểu tượng cho ngu đần. Người ta nói: ngu như bò; đầu bò đầu bướu (bướng bỉnh, ngang ngạnh) con bò vàng già chỉ là người già yếu chậm chạp ngu dốt. Trong khi đó để chỉ người kém thông minh, người Mỹ nói: óc nó nhỏ như hạt đậu (bean).

Ngôn ngữ Việt , tiếng lóng dê có nghĩa không đẹp, dùng để chỉ đàn ông đa dâm: nó có máu dê, nó là dê cụ, dê xồm! Nhưng trong Hán ngữ thì dê và cừu là hình ảnh dịu hiền, rất dễ thương. Ngoài ra vì đồng âm với dương (trái với Âm) và cùng vần với chữ may mắn, nên người Trung Hoa xem con dê và cừu là tượng trủng cho may mắn.

Người Việt và Trung Hoa cho con chim khách là biểu tượng cho điềm lành, tin rằng nó đem đến tin vui. Người Âu Tây hình ảnh chim khách không quý báu gì, ở nước Nga người ta cho loại chim này là tượng trưng cho kẻ đâm bị thóc, chọc bị gạo và kẻ trộm.

2.Hình thức tôn kính

Ở Á Ðông như Nhật, Cao Ly và Tây tạng có hình thức nói và viết tôn kính đối với những bậc tu hành, lãnh đạo... Hình thức này được biến cải ngay vào trong ngôn ngữ. Ở Việt Nam và Trung Hoa không có lối viết như thế, nhưng dùng những từ đặt thêm vào để bày tỏ lòng quý trọng tôn kính. Ví dụ tiên sinh, tiền bôí; ông anh, đàn anh. Riêng Việt Nam có những có những chữ không dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp được, để bày tỏ kính trọng người hơn mình về tuổi tác, học vấn, tư tưởng... Ðó là thưa, trình, bẩm, ở đầu câu và ạ ở cuối câu. Người Mỹ chỉ có từ Sir và Mam đặt ở cuối hoặc đầu câu để bày tỏ sự tôn kính thôi.

3.Con số

Ngôn ngữ nào cũng phải có số đếm, nhưng có vài con số có những hàm nghĩa đặc biệt.

Chính con số không có gì thần bí, nhưng từ chỗ sùng bái linh vật về ngôn ngữ, người ta đi đến sùng bái về con số. Người ta cho rằng có những số lành, may mắn, có những số dữ, xui xẻo.

Ví dụ ở các nước phương Tây, số 13 bị coi là số xấu, người ta luôn luôn kiêng và cố lẩn tránh con số này Ở các nhà lầu, ngườii ta không lấy số 13, các bệnh viện và giường bệnh số 13; trên máy bay xe lửa và ở mỗi hàng ghế đều không có ghế số 13. Người ta tiến hành những việc quan trọng cũng cố tránh ngày 13. Nhưng ở Việt Nam và Trung Hoa lại không tin như thế. Một vài tỉnh ở Trung Quốc người ta cho các số 3, 6, 9 là số đẹp, chọn những ngày 3, 6, 9, 13, 16, 26, 29 âm lịch làm lễ cưới. Ở Nhật, người ta cho số 4 là xấu, vì tiếng Nhật số 4 đọc lên nghe gần như chết (Xi = tứ, xi = tử) nên người Nhật thường kiêng số này. Nhiều bệnh viện Nhật không có tầng số 4, phòng số 4 và giường số 4. Tiếng trung Hoa cũng như vậy, tứ đọc lên theo phương ngữ nào nghe cũng gần giống với tử, nên nhiêu bệnh nhân nằm bệnh viên kiêng số đó. Ngay cả số điện thoại, người ta cũng không thích số 4. Gần đây vì ảnh hưởng Hương Cảng và Quảng Ðông, họ rất chuộng con số 8. Bát đọc lên gần như phát (tài), nên người ta rất thích số 8, nếu có số 168 là nhất lộ (lục) phát hay 598 đọc như ngã cửu phát (ngũ cửu bát) = tôi phát tài được lâu. Ở Việt Nam, người ta có quan niệm riêng về các con số, coi số lẻ là tốt đẹp. Làm đám cưới cũng có thói quen chọn ngày, có người kiêng ngày 3 và ngày 7, vì đã có câu: Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba. Nhưng so với hai nước nói trên, quan niệm lành dữ về con số của người Việt vẫn nhẹ hơn. Người Việt chuộng nhất số 9 và kỵ nhất số l0, gọi là số bù, bảng số xe các loại, họ đều thích có số 9, hoặc cộng lại số thành là 9.

4. Từ ngữ chỉ màu sắc

Màu sắc có ảnh hưởng đến tâm lý con người điều đó đã được công nhận. Trong ngôn ngữ, các từ ngữ chỉ màu sắc có thể phản ảnh được tâm lý văn hóa dân tộc. Cho nên các từ ngữ chỉ màu sắc thường có nghĩa tượng trưng văn hóa rất phong phú.

Từ xưa, người Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa có quan niệm tôn sùng màu vàng, vì từ đời Hán, lấy năm sắc tượng trưng cho ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và ngũ phương là Ðông, Tây, Nam, Bắc. Vàng là tượng trưng cho Thổ và Trung ương và là màu của vương quyền. Từ đời Hán trở xuống, các nhà vua đều mặc áo vàng, và đó là độc quyền của nhà vua.

Nhưng từ hơn chục năm nay, màu vàng lại có nghĩa tượng trưag cho khiêu dâm, dâm ô, vì mấy chữ điện ảnh màu vàng nghĩa là phim ảnh khiêu dâm; phòng khiêu vũ màu vàng, băng hình màu vàng là cùng nghĩa dó. Ở Việt Nam thì coi nhẹ hơn , nhạc vàng có nghĩa là nhạc buồn ủy mị, lãng mạn. Người Á đông cũng thích màu đỏ, cho đó là tượng trưng cho sự may mắn, hạnh phúc, vui vẻ, thành đạt. Vào các dịp ngày Tết, ngày lễ lớn thường treo câu đối đỏ, thắp nến đỏ... Ở Trung Hoa còn treo đèn lồng đỏ, trong đám cươi cô dâu mặc toàn màu đỏ, trang hoàng trong nhà toàn bằng màu đỏ. Trái lại ở Tây phương, cô dâu mặc bộ áo cưới màu trắng, họ cho rằng màu trắng tương trưng cho sự trong sạch, tinh khiết của cô dâu. Nhưng ở Trung Hoa dân gian lại kiêng màu trắng trong đám cuới, vì họ vẫn coi màu trắng là màu tang tóc. Người Á đông không thích màu đen cho rằng đó là vận không may, số đen, đen đủi trong khi vẫn có nhiều người Tây phương thích sơn cửa màu đen cổ điển.


Các từ ngữ văn hóa còn rất nhiều, như những chữ kiêng kỵ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, tiếng lóng v. v.. Ví dụ một từ có cùng nghĩa nhưng lại thay đổi, hay thêm bớt nghĩa, tùy theo cáh dùng, cách đặt câu của từng quốc gia. Như từ nóng = chaud = hot của Việt, Pháp và Anh. Nóng của Việt Nam giống như hot của Anh có nghĩa nữa là nóng nảy; mới tinh, nhưng tiếng Anh còn thêm nghĩa là cay (hot pepper). Chaud (e), chaleur của Pháp là nóng, nhưng nếu nhầm lẫn nói một người đàn bà đang "en chaleur' thì thật là nguy hiểm!

Những điểm nói trên cho thấy yếu tố văn hóa có vai trò quan trọng trong giao thiệp, tiếp xúc đặc biệt là trong tiếp xúc văn hóa. Ðây cũng là vấn đề ngôn ngữ và vấn đề bối cảnh văn hóa. Chú tâm đến khía cạnh văn hóa khi nghiên cứu ngôn ngữ là cần thiết và là cách tìm hiểu mới, một địa hạt mới trong ngôn ngữ học.

Vài chục năm nay, ở Mỹ, Nga, Trung Quốc, các nhà ngôn ngữ học đã làm nhiều việc nghiên cứu ngôn ngữ qua văn hóa và thu được một số thành quả. Chẳng hạn muốn học một ngoại ngữ, cần phải học qua về văn hóa của thứ tiếng đó. Ðặc biệt là phải hiểu phong tục, tập quán, sử, địa... của nước đó. Họ nghiên cứu các mặt ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa để kết hợp ngôn ngữ với các ngành khoa học xã hội khác và từ đó tạo dựng một số môn học liên ngành, trong đó có môn ngôn ngữ văn hóa (Cultural linguistics).

Diệu Tần

Ngôn ngữ và văn hóa

Văn hóa và ngôn ngữ có liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ. Người ta đã nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ ngôn ngữ và văn tự để được lưu truyền và trong tương lai, nền văn hóa cũng nhờ vào ngôn ngữ để phát triển. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với biến đổi và phát triển văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ, và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa. Ðiều đó được thể hiện rõ ràng trong trường hợp tiếp xúc giao thiệp văn hóa mà hai bên (khác dân tộc, khác quốc gia) có bối cảnh văn hóa khác nhau.

Thông thường thì trình độ sử dụng một ngôn ngữ như một ngoại ngữ (khả năng nghe, nói, đọc và viết, mà nghe là quan trọng nhất) được quyết định bằng hai yếu tố: Sự am hiểu về ngôn ngữ đó và sự hiểu biết về kiến thức văn hóa trong bối cảnh của ngôn ngữ đó. Khi một người đã nắm được đầy đủ những kiến thức ngôn ngữ mà vẫn không giải thích thỏa đáng được ngoại ngữ là vì họ không có đủ kiến thức về bối cảnh của ngôn ngữ đó. Do sự khác biệt về óc thẩm mỹ, cách suy tư, quan niệm giá trị, đặc trưng tâm lý và tập quán của từng dân tộc, cách giải thích và diễn đạt cùng một sự vật cũng sẽ khác nhau. Cho nên có khó khăn hoặc có khi dẫn tới sự hiểu lầm trong tiếp xúc là lẽ đương nhiên.

Xin nêu một số trường hợp đáng chú ý sau đây: CÁCH THỨC ÐỐI THOẠI

l. Chào hỏi

Người Việt Nam và người Á đông có thói quen (thói quen, tập quán là văn hóa) chào nhau bằng cách hỏi: ông ăn cơm chưa?; bác đi đâu đấy?; Bà đang làm gì đấy? Hỏi mà không cần nghe câu trả lời, đó chỉ là cách thức chào, không phải thật sự muốn biết người được hỏi ăn cơm chưa; đi đâu; hay đang làm gì. Khi trả lời, người ta có thể đáp lại một cách không đích xác, hoặc không trả lời. Nếu dịch những câu hỏi trên sang tiếng Anh, tiếng Pháp thì sẽ là những câu hỏi rõ ràng, cần phải trả lời. Nếu chúng ta chào hỏi người Pháp người Mỹ những câu như thế có thể có sự hiểu lầm , vì họ chào nhau bằng những câu như: Bon soir, Good morning... Trái lại với chúng ta khi muốn chào như thế, chúng ta không cần phải nói rõ là chào buổi chiều, hay chào buổi tối

2. Làm quen.

Người Việt Nam và người Á Ðông có thói quen ưa tìm hiểu quan sát và đánh giá người mình tiếp xúc. Tuổi tác, quê quán, trình độ văn hóa, địa vị xã hội, mức thu nhập cá nhân, tình trạng gia đình. (Bố mẹ còn hay mất, đã lập gia đình chưa, đã có con chưa, mấy trai mấy gái. Nhũng câu hỏi về biography và background cho người đối diện luôn là những điều chúng ta quan tâm và đặt câu hỏi). Chúng ta hỏi những điều đó là xuất phát từ óc cộng đồng, tự thấy có trách nhiệm phải chú ý đến người khác, cần biết rõ người đối thoại. Nhưng thói quen ưa tìm hiểu này hoàn tòan trái ngược với người Tây phương. Người Âu Mỹ đề cao chuyện riêng tư của con người, coi như bất khả xâm phạm, nhất là về lương bổng và tuổi tác phụ nữ. Ở Mỹ, ngay cả trong mẫu đơn xin việc và trong các cuộc phỏng vấn nhận nhân viên, công nhân, không có quyền hỏi người đứng đơn về tình trạng gia đình. Người Tây phương khi làm quen thường khen nhau trẻ, đẹp, quần áo hợp thời trang, hoặc nói về thời tiết, hay bàn về trận đấu thể thao vừa qua. Nếu cứ hỏi người Tây phương về chuyện riêng của họ, họ cho mình là tò mò, hay dò tìm những điều bí ẩn của người khác và có thể họ sẽ chán nản, tức giận.

3. Lời khen hay lời chê?

Khoảng 30, 40 năm trở lại đây, phụ nữ Âu Mỹ rất sợ béo mập, vì béo mập là hình

dáng không đẹp, lại là mầm mống cuả nhiều thứ bệnh. Trong khi người Á đông khen: béo tốt, tốt tướng, lên cân, bệ vệ thì người được khen hài lòng. Ngược lại khen như thế lại là lời sỉ mạ người được khen! Người Việt và người Trung Hoa có thói quen nói lớn tiếng ngoài đường phố, nơi công cộng. Trong khi đó người Âu, Mỹ thường nói chuyện vửa đủ nghe, tôn trọng bầu không khí yên tĩnh, tôn trọng người khác. Người Á đông vào những tnlờng hợp ông, Bà, Cha, Mẹ nhận quà tặng cua con cháu, nhận lời chúc mừng, nhận lời khen tặng, không cần phải cảm ơn. Các vị đó xem như con cháu có bổn phận phải làm như thế.

Người Việt, có khi khen thật lòng, có khi lại khen mỉa mai, khen mà là chê. Ví dụ có người hỏi: Cô ấy, bà ấy đẹp nhỉ, người đối thoại sẽ trả lời: Ðẹp? Ðẹp thật à? À, đẹp thật, đẹp chín nghìn ! Hoặc dùng ca dao: Ðẹp như con tép kho tương! Trái lại khi khen một đứa bé bụ bẫm thì dùng hình thức chê, vì e sợ mụ quở, sợ ma quỷ bắt đứa bé đi: "Ấy cháu nó xấu xí lắm, nó hư lắm." Có nghĩa là cháu nó bụ sữa lắm! Cháu nó ngoan lắm! Nếu dịch lời chê rồi giải nghĩa cho người Âu Mỹ hiểu đó là lời khen thì họ phải cố hiểu mới hiểu nổi.

4. Cách xưng hô

Trong một ngôn ngữ, cách xưng hô luôn luôn biểu lộ đặc trưng tâm lý, nếp suy tư và văn hóa của dân tộc đó. Trong tiếng Việt cách xưng hô rất phong phú và phức tạp. Ngoài các đại từ nhân xưng như: tôi tao, tớ, mày, nó, hắn; chúng tôi, chúng tao, chúng tớ, chúng nó, bọn hắn còn có một số lượng lớn các danh từ chỉ liên hệ họ hàng như: anh - em, bà - cháu, chú - cháu... để thay thế cho đại từ nhân xưng và những danh từ này có xu hướng lấn át các đại từ nhân xưng. Hệ thống xưng hô này nói lên đặc điểm của văn hóa Việt Nam. Chúng được ứng dụng tùy theo tình cảm của người phát biểu và trường hợp cụ thể khi nói chuyện. Cùng tiếp xúc một người, người ta có thể dùng những cặp từ xưng hô khác nhau như : anh- em, anh - tôi, ông -tôi, mày - tao tùy theo từng trường hợp. Trái lại trong ngôn ngữ Tây phương và cách nói phổ thông của Trung Hoa chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng như

: I, You, he, she, Hán ngữ thì ngã, nhĩ (ngổ, nỉ).

Nếu so sánh các danh từ chỉ liên hệ họ hàng trong các ngôn ngữ, chúng ta sẽ thấy nhiều điểm khác nhau có khi thú vị, khôi hài và kỳ lạ. Ví dụ trong tiếng Việt cháu (trai, gái) chỉ người thế hệ sau, nhưng không phải là con, gồm: con của con; con của anh, chị và em. Trong tiếng Anh cũng có grand child, nephew và niece. Nhưng nếu dạy tiếng Việt cho người Anh, Mỹ thì cháu lại có thể là con, có thể là tôi nữa. Ví dụ hỏi một thanh niên: Anh đã có cháu nào chưa?; hay nói: Thưa các cụ , cháu không dám ạ!

Như vậy cách xưng hô nói lên những đặc trưng bối cảnh văn hóa xã hội của từng ngôn ngữ, cần được nghiên cứu bằng kết hợp văn hóa và ngôn ngữ.


5. Lối khiêm tốn (nhún nhường)

Khiêm tốn là một đức tính, nhưng mỗi dân tộc thường có cách thức riêng để tỏ ý khiêm nhường. Người Việt Nam và Á đông thường tỏ ý khiêm tốn bằng cách tự khiêm, là tự hạ mình xuống. Ví dụ trong một cuộc họp, người Á đông thường mở đầu bằng mấy câu như sau: "Trình độ của tôi không bằng ai, tôi chưa chuẩn bị kỹ, nếu có chỗ nào tôi sơ xuất thì mong quý vị thông cảm và bỏ quá cho" Nói như thế là lịch sự. Nhưng người Tây phương sẽ không hài lòng và phản ứng: nếu trình độ yếu, chưa chuẩn bị kỹ thì nói làm gì?" Họ không hiểu rằng khi nói thế chỉ là cách nhún mình thôi, thật ra người ấy rất giỏi, và chuẩn bị hết sức kỹ càng. Người Á Ðông không bao giờ tự khen mình tự tâng bốc mình, e bị chê cười. Trái lại người Tây phương cho rằng chúng ta thiếu tự tin, và tự tin không có nghĩa là tự khoe khoang. Khi tặng quà, người Việt thường muốn giảm giá trị món quà, dù món quà đó họ đã bỏ ra nhiều công sức tiền bạc mới mua được. Họ chỉ nói "Ðây là chút quà mọn chẳng đáng gì bao nhiêu". Nói thế để người nhận quà yên lòng. Người Âu Mỹ thì trái lại. Khi tặng quà họ thường nói rõ: Món quà này tôi đã có chủ ý đi mua cho bằng được, hoặc là: "Ðây là hàng nổi tiếng, hiếm có". Người phương Tây cho rằng nói thế mới tỏ lòng chân thành.
Lối tự khiêm còn thể hiện ngay trong cách sử dụng ngôn ngữ. Ví dụ: "Ông lại chơi nhà chúng tôi; Ông cho tôi món quà" nhưng lại nói để nâng cao giá trị người đối thoại: "Tôi xin lại thăm ông bà"; "Tôi xin biếu ông bà món quà mọn".

Diệu Tần

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2005

Truyện Kiều



����馭几��袍

棱楓秋㐌��牟闗山

��紅��捲征鞍

��㐌屈氽岸橷��

��衛隻䏾��更

几������沒命賖吹

暈�� 埃仕堆

姅印襘隻姅����長



Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.



- Những chữ sai khác so với nguyên bản:

��(trăng)


- Những chữ đồng/gần nghĩa:

几(仉), ��(染), 闗(關関), ��(��琰), (��),
��(撐撑��), 衛(��), 䏾(������俸), 沒(𠬠),
��(��), ��(閍), 命(��), 賖(賒), 仕(��), ��(��)